Trường Mở - Cộng Đồng Học Sinh Việt Nam

 Quên mật khẩu
 Đăng ký
Tìm
Xem: 882|Trả lời: 5
In Chủ đề trước Tiếp theo

Khái quát về sự hình thành và phát triển của Việt ngữ học

Nhảy đến trang chỉ định
Chủ nhà
(Phần 1)
Việt ngữ học với tư cách là một ngành khoa học chỉ mới xuất hiện gần đây, khi nước ta giành được quyền độc lập dân tộc (1945), cùng với sự ra đời của các trường đại học và viện nghiên cứu ở Việt Nam, nhưng những quan sát, suy nghĩ về tiếng Việt thì đã có từ lâu.
Cũng như mọi ngành khoa học khác, Việt ngữ học ra đời xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn chứ không phải từ những suy nghĩ trừu tượng.
Bản tính của con người là tò mò, hiếu kì, luôn luôn quan sát, ham phá môi trường sống xung quanh cũng như chính bản thân mình. Người Việt xa xưa đã chú ý tới sự khác biệt trong lời nói của mình với lời nói của những người khác, sự khác biệt trong tiếng nói của làng mình với tiếng nói của làng khác. Những gì là của mình do bố mẹ truyền dạy; những gì là của làng mình, là cái chung của cả họ, của những người người hàng xóm thân thích, tắt lửa tối đèn có nhau,... đương nhiên sẽ được mọi người trân trọng, giữ gìn, không cho người khác xúc phạm (chửi cha không bằng pha tiếng).
Khi dân tộc phát triển, người ta hướng tới những cái chung cho toàn dân tộc, mà ngôn ngữ chính là linh hồn của dân tộc. Vì thế, cái nhu cầu thôi thúc cần phải nghiên cứu tiếng Việt một cách sâu sắc xuất phát từ niềm tự hào về dân tộc và tiếng nói dân tộc. Niềm tự hào dân tộc thể hiện ở chỗ mỗi dân tộc phải có nền văn hiến riêng. Trước khi chữ Nôm hình thành, dân tộc ta đã có một ngôn ngữ thành văn trên cơ sở chữ Hán, đã có một nền văn hoá khả quan, phục vụ đắc lực cho việc quản lí và điều hành xã hội, đã tạo ra một nền văn chương bác học với thơ, phú, ca, từ,... Tuy nhiên, cái ngôn ngữ thành văn này không thật sự bắt rễ bền chắc từ bản thân cộng đồng(1). Nhu cầu đặt ra là phải xây dựng một nền văn hoá dân tộc dựa trên ngôn ngữ dân tộc. Chữ Nôm ra đời đánh dấu bước nhận thức mới sâu sắc hơn về tiếng Việt.
Nhờ có chữ Nôm, người ta mới có thể biết thêm về nhiều thói quen lời nói khác nhau, cả những thói quen lời nói ở rất xa mình. Nhờ có chữ Nôm, người ta mới có điều kiện quan sát tiếng Việt một cách hệ thống về nhiều mặt, chứ không chỉ nhận thức rời rạc từng hiện tượng do thế hệ trước truyền lại.
Trong quá trình phát triển, dân tộc ta đã tiếp xúc giao lưu với nhiều dân tộc khác. Muốn giao lưu, tiếp xúc với nhau thì trước hết là phải học hỏi ngôn ngữ của nhau. Trước đây, vào thời cổ, trung đại ở Việt Nam, không có trường lớp nào dạy tiếng Việt cả. Người Việt học tiếng Việt ngay từ lúc lọt lòng mẹ, thông qua thực tiễn xã hội. Tiếng Việt đã được người nước ngoài nghiên cứu do nhu cầu học tập và nghiên cứu nó như một ngoại ngữ.
Vào thế kỉ XV, sứ thần Trung Quốc đi ra các nước và sứ thần các nước đến Trung Quốc ngày một nhiều. Vì thế, các cơ quan phiên dịch ở Trung Quốc như Hội thông quán, Tứ Di quán, Tứ Dịch quán nối tiếp nhau ra đời để làm nhiệm vụ phiên dịch khi giao tiếp. Các cuốn từ vựng đối chiếu tiếng Hán với một thứ tiếng khác được lần lượt biên soạn, trong đó có cuốn An Nam dịch ngữ là cuốn từ vựng đối chiếu tiếng Hán với tiếng Việt.
Rồi nhu cầu dạy chữ Hán cho người Việt khiến nhiều người Việt Nam biên soạn các từ điển đối chiếu Hán–Nôm, nhờ đó mà nhận thức về tiếng Việt ngày càng phong phú, đa dạng.
Nhu cầu học tiếng Việt của các giáo sĩ phương Tây bắt nguồn từ mục đích truyền bá đạo Thiên Chúa vào Việt Nam. Nhưng cũng chính nhờ đó mà chữ quốc ngữ được hình thành. Sự ra đời của chữ quốc ngữ, sự tiếp xúc với văn hoá phương Tây đã khiến cho nhận thức về tiếng Việt biến đổi. Từ đây, tiếng Việt đã được quan sát, miêu tả trên cơ sở lí luận ngôn ngữ học hiện đại. Như ta biết, Việt Nam nằm trong khối đồng văn với Trung Quốc, mà truyền thống ngôn ngữ học Trung Quốc thường tập trung vào nhưng hướng nghiên cứu sau đây:
  • Nghiên cứu một số vấn đề về triết học ngôn ngữ, đặc biệt là vấn đề quan hệ giữa tên gọi (danh) và hiện thực (thực), vấn đề xác định thế nào là câu.
  • Nghiên cứu chữ Hán, truyền thống ngữ văn Trung Quốc gọi việc nghiên cứu này là huấn hỗ họctự thư học. Huấn hỗ học nhằm giải thích nghĩa của chữ, tự thư học giải thích hình của chữ.
  • Nghiên cứu âm và vần tiếng Hán là nội dung nghiên cứu của âm vận học.
Tiếp xúc với phương Tây, chúng ta dần dần làm quen với hệ thống thuật ngữ ngôn ngữ học mới mẻ: nguyên âm, phụ âm, âm vị, âm tố, thanh điệu, dấu câu, phong cách, chức năng, từ đơn, từ ghép, từ phái sinh, từ tố, hình vị, chủ ngữ, vị ngữ, định ngữ, bổ ngữ, câu đơn, câu ghép, từ loại, danh từ, động từ, tính từ,...
Ngay các cuốn từ điển giải thích tiếng Việt cũng như các cuốn từ điển đối chiếu tiếng Việt với một ngoại ngữ nào đó được biên soạn vào thời cận hiện đại cũng vận dụng những lí luận từ điển học mà ngôn ngữ học thế giới đã dày công tích luỹ.
Khi tiếng Việt chưa được sử dụng trong giáo dục và hành chính, thì nhu cầu thống nhất và chuẩn hoá tiếng Việt chưa đặt ra một cách cấp thiết. Thế nhưng, Cách mạng Tháng Tám thành công đã đưa lại địa vị ngôn ngữ chính thức của quốc gia cho tiếng Việt, nhu cầu chuẩn hoá tiếng Việt trở thành một nhiệm vụ cấp thiết. Chính nhu cầu thống nhất ngôn ngữ, chuẩn hoá tiếng Việt đã đòi hỏi việc nghiên cứu tiếng Việt phải thật đầy đủ, toàn diện.
Mặt khác, ngày nay tiếng Việt không chỉ là phương tiện giao tiếp của người Việt trên mọi miền đất nước, mà còn là phương tiện giao tiếp chung của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, là phương tiện của Việt Nam trong giao lưu và hợp tác quốc tế. Vì thế, tiếng Việt trở thành đối tượng học tập, nghiên cứu chẳng những của người Việt Nam, mà còn của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam và bạn bè quốc tế.
Mặc dù với tư cách là một ngành khoa học nghiên cứu về tiếng Việt thì Việt ngữ học chỉ mới hình thành gần đây trong thời cận hiện đại, nhất là chỉ đạt thành tựu rực rỡ từ sau Cách mạng Tháng Tám tới nay. Nhưng tôi quan niệm, tất cả những suy tư, khám phá, những nghiên cứu về một hoặc những khía cạnh nào đó của tiếng Việt đều thuộc vào lịch sử Việt ngữ học. Trong quá trình lịch sử, những trí thức ưu tú đã phát triển những kiến thức lẻ tẻ, chưa hệ thống về tiếng Việt, đã xây dựng và bổ sung khung khái niệm, qua đó thiết lập những nhận định có giá trị về tiếng Việt. Các nhà khoa học đã lao động không ngừng để xác định những thực tế, những hiện tượng và những hoạt động thuộc phạm vi nghiên cứu của họ.
Căn cứ vào sự phân kì 12 thế kỉ của tiếng Việt, chúng ta có thể chia sự phát triển của Việt ngữ học thành hai giai đoạn lớn: giai đoạn cổ trung đại (từ cổ đến nửa đầu thế kỉ XIX) và giai đoạn cận hiện đại (từ thời gian thuộc Pháp đến nay). Giai đoạn cận hiện đại chính là thời kì Việt Nam có sự tiếp xúc văn hoá mạnh mẽ với phương Tây.
__________
(1) Trong bài Người An Nam nên viết chữ An Nam trên Đăng cổ tùng báo (ngày 28/3/1907), Nguyễn Văn Vĩnh nhận xét: “... học thông chữ nho thì thật là khó lắm, chữ là như dấu bịa ra để viết ý nghĩ người ta, mà từ xưa nay An Nam bao nhiêu người học chữ nho, dễ họ đã mấy người, bụng nghĩ thế nào lại viết ngay ra được thành chữ như thế? Thế ra chỉ học để ngâm nga mà thôi. Nói cho phải thì chỉ học để đi thi đỗ làm quan là mãn nguyện”. Về cái hay của văn chương bằng chữ Hán, ông coi là cái “hay vô dụng”, “bất quá câu văn thú, chỉ đến rung đùi là cùng, chớ chẳng động được lòng ai, vì người đọc biết hay, mà người nghe như vịt nghe sấm vậy” (Đông Dương tạp chí, số 9).
(Phần 2)
Nửa đầu thế kỉ XIX trở về trước, những quan sát, nghiên cứu về tiếng Việt còn rất sơ sài. Điều này có nguyên nhân khách quan của nó.
Trước hết, vì chức năng xã hội của tiếng Việt thời cổ trung đại còn hạn chế nên nhu cầu phải nghiên cứu nó không cao.
Thứ hai, muốn nghiên cứu tiếng Việt phải có phương tiện là chữ viết phát triển nhưng trong khi đó, cả chữ Hán, chữ Nôm và chữ quốc ngữ thời kì này đều có những hạn chế nhất định. Ở Việt Nam, không mấy người có đủ trình độ tiếng Hán để có thể dùng chữ Hán để ghi lại những quan sát của mình về tiếng Việt. Những người có thể lưu bút cho đời như Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm thì thật là hiếm. Chính người Trung Quốc đã dùng chữ Hán để phiên âm tiếng Việt và làm ra cuốn từ điển đối chiếu đầu tiên là An Nam dịch ngữ(1). Còn về chữ Nôm thì, ông cha ta chỉ có thể gửi gắm những quan sát, suy nghĩ của mình về tiếng Việt qua sự cấu tạo của chữ Nôm, chứ bản thân chữ Nôm chưa thể trở thành phương tiện để miêu tả các phương diện của tiếng Việt, mặc dù nó đã góp phần hình thành nên một loạt từ điển đối chiếu Hán–Việt các loại (chi tiết xem chương II của cuốn sách này). Chữ quốc ngữ tuy ra đời từ thế kỉ XVII, nhưng chỉ bó hẹp trong phạm vi đạo Thiên Chúa mà triều đình phong kiến Việt Nam, cả ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài, lại thi hành chính sách cấm đạo nên chữ quốc ngữ không thể phát triển, truyền bá rộng rãi.
Thứ ba, Việt Nam và Trung Quốc là những nước đồng văn mà truyền thống ngôn ngữ học Trung Hoa chỉ xoay quanh âm vận học, huấn hỗ học, tự thư học cho nên cái phông lí thuyết để miêu tả tiếng Việt thời kì này cũng chỉ xoay quanh âm, chữ và nghĩa mà thôi. Lê Quý Đôn (một nhà bác học của Việt Nam thế kỉ XVIII) đã đóng góp cho lịch sử văn hoá nước nhà trên nhiều mặt như triết học, lịch sử, văn học,... Những suy nghĩ, quan sát của ông về ngôn ngữ cũng rất phong phú, giá trị, nhưng dẫu sao vẫn chưa vượt qua được cái phông chung của thời đại.
Tuy nhiên, trong thời cổ trung đại đã có những công trình về ngữ pháp và tiếng Việt mang tinh thần khoa học của phương Tây. Đó là Báo cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông KinhTừ điển Việt–Bồ–La của Alexandre de Rhodes, Từ điển Việt–La của Pigneaux de Béhaine, Nam Việt Dương Hiệp tự vị của Taberd. Nhưng vì những tác phẩm này không được in ở Việt Nam nên tác động của chúng đối với người Việt rất hạn chế. Mặc dù sự tác động của nhân tố bên ngoài là cần thiết và quan trọng nhưng Việt ngữ học chỉ có thể phát triển mạnh mẽ và vững chắc nhờ vào nội lực của mình. Đó là điều mà chúng ta có thể chứng kiến ở giai đoạn cận hiện đại.
Giai đoạn cận hiện đại có thể chia thành hai thời kì nhỏ: giai đoạn cận đại (thời Pháp thuộc) và giai đoạn hiện đại (từ năm 1945 đến nay).
Đặc điểm chung của giai đoạn cận đại là:
  • Việt ngữ học được nghiên cứu theo tinh thần của ngôn ngữ học phương Tây và ngôn ngữ học hiện đại của thế giới
  • Tiếng Việt vươn lên làm phương tiện diễn đạt những thành tựu Việt ngữ học, nó dần trở thành phương tiện chính, với số lượng tài liệu được viết bằng tiếng Việt nhiều hơn hẳn những tài liệu được viết bằng các ngoại ngữ như tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga,...
  • Số người Việt tham gia nghiên cứu tiếng Việt càng ngày càng đông, họ trở thành bộ phận chủ yếu, nhiều người lấy nghiên cứu tiếng Việt làm nghề chính của mình.
Giai đoạn cận đại là giai đoạn vận dụng quan điểm học thuật châu Âu vào nghiên cứu tiếng Việt. Cho đến cuối thế kỉ XIX, ở châu Âu, phái Tân ngữ pháp giữ vai trò thống trị, ngữ pháp Latin từ thời Đô-na-tut vẫn còn ảnh hưởng lớn. Những người châu Âu tới Việt Nam đã đem quan điểm học thuật vốn có vào miêu tả tiếng Việt. Những người Việt Nam tiếp thu truyền thống ngôn ngữ học châu Âu cũng làm việc theo tinh thần đó. Phải công nhận rằng, ở giai đoạn này, số học giả người nước ngoài nhiều hơn số học giả người Việt Nam. Chúng ta có thể liệt kê một số học giả nước ngoài như:
  • Theurel. Tự vị An Nam–Latin. In ở Ninh Phú, Kẻ Sở, Ninh Bình, năm 1887.
  • Ravier. Tự vị La–Việt. In ở Ninh Phú, 1880.
  • Legrand de la Liraye. Tự vị Việt–Pháp. 1874.
  • Génibrel Aubaret. Grammarie de la langue annamite. (Paris, 1864).
  • Edouard Diguet (1897). Élements de grammarie annamite. Hà Nội, 1924.
  • M. Grammont (viết chung với Lê Quang Trinh). Études sur la langue annimite. Mémoires de la société de linguistique de Paris, tập mười bảy, 1911–1912.
  • A. Chéon. Cours de langue annamite. 1904.
  • A. Bouchet. Cours élémantaire d'annamite. 1908.
  • V. Barbier. Grammarie annamite. Année Préparatoire : Grammaire et Exercises, 1932.
  • J.R. Logan. Ethnology of the Indo-Pacific islands. 1882.
  • A.H. Keane. On the relations of the Indo-Oceanic races and languages. 1880.
  • W. Schmidt. Les langues Mon-Khmer – Trait d'union entre les peuples de l’Asie (Các ngôn ngữ Mon-Khmer – Dấu gạch nối giữa các dân tộc Trung Á và Nam Á).
  • H. Maspéro. Étude sur la phonétique historique de la langue annamite. Les initiales (Nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng An Nam. Các âm đầu). 1912.
  • C.O. Blagden. The classification of the Annamese Language. “JRAS of Great Britain and Ireland”. 1913.
  • G. Coedès. Le langue de l’Indochine. “Conférences de l’Institut de linguistique de L’université de Paris VIII”, Années, 1910–1948, Paris, 1919.
  • E. Souvignet. Les origines de la langue annamite. 1920
  • v.v...
Tuy nhiên, ở giai đoạn này, trên diễn đàn Việt ngữ học đã xuất hiện một số học giả người Việt có tên tuổi. Đó là các ông Trương Vĩnh Kí, Trương Vĩnh Tống, Lê Quang Trinh, Huình Tịnh Của, Nguyễn Hiệt Chi, Lê Thước, Lê Ngọc Vượng, Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ và Phạm Duy Khiêm,... Các ông Trương Vĩnh Kí, Trương Vĩnh Tống, Lê Quang Trinh viết bằng tiếng Pháp, Trương Vĩnh Tống viết cuốn Grammaire de la langue Annamite năm 1876, Lê Quang Trinh cùng với Grammont viết cuốn Études sur la langue Annimite năm 1911. Trương Vĩnh Kí là người Việt đầu tiên nghiên cứu tiếng Việt trong giai đoạn này, đồng thời cũng là người có nhiều công trình nhất:
  • 1867. Abrégé de grammaire Annamite (Ngữ pháp tiếng Việt giản yếu). Saigon, Impr. Impériable.
  • 1868. Cours pratique de langue Annamite (Giáo trình thực hành tiếng Việt). Saigon Impr. Imprériable.
  • 1883. Grammaire de la langue Annamite (Ngữ pháp tiếng Việt). Saigon, C. Guill et Martion.
  • 1887. Vocabulaire Annmite–Français ; mots usuels, noms techniques, scientifiques et termes administratifs (Từ vựng Việt–Pháp; từ thông dụng, từ khoa học kĩ thuật và thuật ngữ hành chính). Saigon, Rey et Curiol.
  • 1888. Ecriture en Annam (Chữ viết ở Việt Nam). Bulletin de la Socitété des Études Indochinoises de Saigon
  • 1894. Cours d’annamite parlé (vulgaire) (Giáo trình tiếng Việt khẩu ngữ (thông tục)). Saigon.
  • 1884. Petit dictionaire Français–Annamite (Tiểu từ điển Pháp–Việt). Saigon, Impr. de la Mission.
Đồng thời, do kết quả của cuộc vận động truyền bá chữ quốc ngữ cuối thế kỉ XIX–đầu thế kỉ XX, tiếng Việt đã vươn lên thành phương tiện diễn đạt khoa học: các cuốn từ điển giải thích tiếng Việt và các sách ngữ pháp tiếng Việt được biên soạn bằng chữ quốc ngữ đã ra đời. Đó là:
  • 1895. Đại Nam quấc âm tự vị của Huình Tịnh Paulus Của. Saigon, Imprmerie Rey, Curiol.
  • 1912. Đồng âm tự vị của Nguyễn Văn Mai. Sài Gòn.
  • 1925. Quốc âm tân chế của Lê Mai. Sài Gòn.
  • 1931. Việt Nam tự điển của Khai trí Tiến Đức.
  • 1935. Sách mẹo tiếng Nam của Nguyễn Hiệt Chi & Lê Thước. Hà Nội.
  • 1940. Việt Nam văn phạm của Trần Trọng Kim; Bùi Kỉ & Phạm Duy Khiêm. Hà Nội.
  • 1941. Tầm nguyên từ điển của Lê Văn Hoè. Hà Nội.
  • 1942–1943. Khảo cứu về tiếng Việt Nam của Trà Ngân & Lê Ngọc Vượng. Hà Nội.
  • 1943. Lược khảo Việt ngữ của Lê Văn Nựu. Hà Nội.
Vào thời thuộc Pháp đã xuất hiện một số học giả người Việt xuất sắc như Trương Vĩnh Kí, Huình Tịnh Paulus Của, Trần Trọng Kim,...
Trương Vĩnh Kí sinh ngày 6/12/1836 tại thôn Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long. Từ nhỏ, ông đã học chữ nho, chữ quốc ngữ, sau đó được một linh mục đưa đến Cái Nhum trên đất Campuchia học chữ Latin. Từ năm 1851 đến năm 1858, ông học ở trường đạo Pinang thuộc Ấn Độ Dương, rồi qua Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức và Ý. Trương Vĩnh Kí là người thông minh, uyên bác, có thể đọc và nói giỏi 15 thứ tiếng phương Tây và 12 thứ tiếng phương Đông. Ông là hội viên của các hội khoa học: Hội Nhân chủng học và khoa học miền Tây nước Pháp, Hội chuyên nói các tiếng phương Đông, Hội chuyên khảo văn hoá Á châu, Hội địa lí học Paris,... Đương thời, Trương Vĩnh Kí được báo chí và giới học giả nước ngoài liệt vào hàng thứ 17 trong danh sách “Toàn cầu thập bát văn hào”. Ông mất ngày 01/9/1898, thọ 62 tuổi. Ông để lại khoảng 118 bộ sách đã xuất bản và rất nhiều công trình còn đang dở dang(2).
Huình Tịnh Của (1834–1908), người gốc Bà Rịa, ông học trường đạo ở Pinang rồi làm công chức trong chính quyền thuộc địa của Pháp. Ông đã có nhiều đóng góp cho nền văn học chữ quốc ngữ ở thời kì đầu. Tác phẩm của ông thuộc nhiều loại. Sách học: Phép toán (Số học) (1867); Phép đo (Hình học) (1867); Gia lễ (1886); Sách Bác học sơ giải (1887); Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn (1897); Thư mẹ dạy con (1913). Sách giải trí: Chuyện giải buồn (in lần đầu năm 1886 và lần thứ năm năm 1904); Câu hát góp (1904); Văn Doan diễn ca (1906). Sách “Bổn cũ soạn lại” hay phỏng dịch của văn học Trung Hoa: Quan âm diễn ca (in lần thứ năm năm 1930); Tống Tử Văn (1904); Bạch Viên Tôn Các (1906); Chiêu Quân cống Hồ (1906); Tống Tử Vưu truyện (1907);...(3)
Biên soạn Đại Nam quấc âm tự vị, Huình Tịnh Paulus Của rất có ý thức thống nhất ngôn ngữ dân tộc với ý nghĩ “hễ có tiếng nói ắt phải có tự vị làm chuẩn thẳng”. Ông đã ngày đêm khó nhọc, viết đi chép lại, hơn bốn năm trời mới hoàn thành. Nhờ ông mà chúng ta có được một bộ từ điển giải thích tiếng Việt khá đồ sộ: 1210 trang khổ lớn.
Trần Trọng Kim (1882–1953) nổi tiếng với các cuốn sách nghiên cứu về Nho giáo (1930) và Việt Nam sử lược (viết xong năm 1919, in vào những năm 1926–1929).
Cuốn Việt Nam văn phạm (1940) ông viết cùng với Bùi Kỉ và Phạm Duy Khiêm. Đây là một cuốn sách đã được sử dụng rộng rãi như một cuốn sách giáo khoa trong các trường học ở Việt Nam lúc đó và đã có một số ảnh hưởng nhất định đến các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt sau đó. Những công trình như: Phân tích từ loại và phân tích mệnh đề của Phạm Tất Đắc (Sài Gòn, 1950), Văn phạm Việt Nam của Thanh Ba Bùi Đức Tịnh (Sài Gòn, 1952), Văn phạm mới của Nguyễn Trúc Thanh (Sài Gòn, 1956) mặc dù xuất hiện sau năm 1943, nhưng về cơ bản vẫn theo đường hướng Việt Nam văn phạm của Trần Trọng Kim.
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về tiếng Việt thời thuộc Pháp được viết trên cơ sở lí luận của truyền thống ngôn ngữ học châu Âu, vì thế không tránh khỏi có hiện tượng nhìn tiếng Việt qua lăng kính của các tiếng châu Âu, cụ thể là tiếng Pháp mà sau này có học giả phê phán là có tính mô phỏng, hoặc có người nặng lời gọi là “dĩ Âu vi trung”.
Tuy nhiên, càng về sau, người ta càng nhận ra sự không thích hợp nếu cứ bê nguyên xi khuôn hình ngữ pháp châu Âu vào tiếng Việt. Nguyễn Giang trong cuốn Cách đặt câu (Hà Nội, 1950) đã viết mỉa mai: “Người viết sách muốn viết một cuốn xứng đáng được gọi là văn phạm của văn phạm Tây phương vào tiếng mình. Người học sách, nếu chưa biết chút văn phạm Tây phương nào, thì thấy cuốn sách cầu kì và có nhiều tính cách Tây phương khó hiểu; nếu đã biết đôi chút rồi thì chỉ muốn soát lại chỗ đôi chút ấy để tự túc, tự đại, chứ không tin rằng có thể nhờ cuốn sách ấy mà tăng tiến được về các điều đã biết. Người không đọc sách thì cười ầm lên khi nghe thấy có người nhắc lại cho biết rằng cuốn sách này dạy chúng ta: ‘Trong một câu hỏi, khi có tiếng ở trên thì phải có tiếng không ở dưới’”.
Các nhà Việt ngữ học dần dần cố gắng xuất phát từ tinh thần của bản ngữ để khắc phục nhược điểm đó. Ngay Trần Trọng Kim, tuy là người chịu ảnh hưởng của truyền thống ngôn ngữ học châu Âu nhưng trong cuốn sách của mình cũng có những cách giải thích các sự kiện tiếng Việt. Điều này chứng tỏ tác giả đã thoát khỏi những định kiến mà nhiều người mắc phải. Cao Xuân Hạo đã nêu ra hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất là cách diễn đạt về ý nghĩa thời và thể:
        “Cách diễn đạt các thì (expression de temps): Để nói rõ lúc diễn ra sự việc so với lúc nói, người ta thêm một phó từ chỉ thời gian làm trạng ngữ:
        
- Bây giờ tôi viết.        
- Hôm qua nó gặp ông ấy.        
- Mai tôi viết thư cho anh.
        Cách diễn đạt của một số thể của động từ (certains aspects du verbe). Khi muốn nói rằng một sự việc đang tiếp diễn (dù là trong hiện tại, quá khứ hay tương lai), người ta dùng phó từ đang hay đương đặt trước vị từ:
        
- Nó đang đi.        
- Anh đang làm.
        Khi muốn diễn đạt một sự việc đã hoàn thành, người ta dùng đã trước động từ: tôi đã biết hoặc rồi, xong sau vị từ:
        
- Nó ăn rồi.        
- Tôi nói xong.”
Trường hợp thứ hai là cách giải thích về hai chữ đượcbị của Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ và Phạm Duy Khiêm:
        “Động từ được đặt trước một động từ khác diễn đạt các ý nghĩa nói rằng đó là một mối lợi mà chủ thể được nhận (un avantage reçu) hay một kết quả may mắn mà chủ thể thu được (un heureux résultat obtenu):
        
- Người ấy được khen.        
- Tôi được đi xem hát.
        Ba động từ bị, mắc, phải đặt trước một vị từ khác diễn đạt cái ý nói rằng đó là một sự bất lợi mà chủ thể phải chịu (un désavantage subi):
        
- Người kia bị đánh.        
- Nó phải phạt.        - Anh ấy mắc lừa.
        Ở đây, các từ được, bị, mắc, phải được coi là động từ (verbe) bình thường (chứ không phải trợ từ – auxiliaires) và ba tác giả tuyệt nhiên không nhắc đến thái bị động (voix passive)”(4).
___________
(1) An Nam dịch ngữ, Vương Lộc giới thiệu và chú giải, Nxb Đà Nẵng & Trung tâm Từ điển học, Hà Nội–Đà Nẵng, 1996.
(2) Dẫn theo Võ An Thái, báo An ninh thế giới, số 130, ngày 17/6/1999.
(3) Dẫn theo Bùi Đức Tịnh trong lời giới thiệu cuốn Đại Nam quấc âm tự vị, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 1998.
(4) Cao Xuân Hạo. Nhân đọc lại một cuốn sách cũ. Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 5 (2001).

Theo Nguyễn Thiện Giáp. Lược sử Việt ngữ học (tập 1). Nxb Giáo dục, H., 2005


Thread Hot
[CNXH Khoa Học] 20 CÂU HỎI-TRẢ LỜI PHẦN CHỦ
[Đường lối cách mạng của Đảng CSVN] 20
[Kinh Tế Chính Trị] Câu hỏi và đáp án ph
[Kinh Tế Chính Trị] 26 CÂU HỎI-TRẢ LỜI PHẦ
[Triết Học] 35 CÂU HỎI-TRẢ LỜI PHẦN TRIẾT
[Thể Thao] Bộ phim về CR7
[Làm văn] Thuyết minh cây lúa nước!
[Ôn thi ĐH - CĐ] Hướng dẫn kĩ năng vẽ biểu
[Phương Pháp & Kỹ Năng] Tìm bạn theo cung Ho
[Triết Lý Cuộc Sống] Những Câu Nói Hay Củ
[Khối Ngành Khoa Học Tự Nhiên] Các chất đ
[Khối Ngành Văn Hóa - Nghệ Thuật] Nghệ thu

6#
Đăng lúc 9-11-2011 14:37:47 | Chỉ xem của tác giả
vậy ạ. vâng em cảm ơn anh nhiều nha
5#
 Tác giả| Đăng lúc 8-11-2011 23:58:59 | Chỉ xem của tác giả
chipkem gửi lúc 8-11-2011 11:09
hjhj ngại quá! hình như ko vào đc wed HOANGSA.ORG anh ạ

Hi! Web thường xuyên bị tấn công bạn ạ! Bạn có thể vào web hoangsa.net!!!

Tầng
Đăng lúc 8-11-2011 11:09:14 | Chỉ xem của tác giả
hjhj ngại quá! hình như ko vào đc wed HOANGSA.ORG anh ạ
  
Ghế gỗ
 Tác giả| Đăng lúc 2-11-2011 19:38:34 | Chỉ xem của tác giả
chipkem gửi lúc 2-11-2011 14:27
nhưng tiếng việt hiện nay đang bị chính người việt cụ thể la các bạn teen việt bóp m ...

Xin lỗi bạn bàn về tiếng Việt mà dùng câu chữ sai lỗi chính tả dữ quá!
Gần đây là quyển sách về ca dao tục ngữ mang mác "teen"!!!
"HÃY ĐỂ TIẾNG VIỆT ĐẸP MUÔN ĐỜI" - trích lời kêu gọi của trung tâm dữ liệu HOANGSA.ORG!
Sofa
Đăng lúc 2-11-2011 14:27:23 | Chỉ xem của tác giả
nhưng tiếng việt hiện nay đang bị chính người việt cụ thể la các bạn teen việt bóp méo. những từ mượm không cần thiét như phome hay mobile vv.... đang đc chúng ta sử dụng một cách thái quá,chàn lan. chung tay vì sự trong sáng của tiếng việt, hãy dúng tiếng viêt nhiều hơn và hảy hạn chế sử dụng từ nươc ngoài ít đi các bạn nha
Bạn phải đăng nhập mới được đăng bài Đăng nhập | Đăng ký

Quy tắc điểm

GMT+7, 20-4-2026 18:44

Trang Chủ | Diễn Đàn Trường Mở

Truongmo.com © 2011

Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách