Trường Mở - Cộng Đồng Học Sinh Việt Nam

 Quên mật khẩu
 Đăng ký
Tìm
Xem: 16143|Trả lời: 14
In Chủ đề trước Tiếp theo

thuyết minh về con trâu ( lớp 9 )

Nhảy đến trang chỉ định
Chủ nhà
Advertisements
thuyết minh về con trâu ở làng quê Việt Nam:

" trâu ơi ta bảo trâu này
trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta "

Câu ca dao, tục ngữ có từ xa xưa đã gắn liền với nền nông nghiệp Việt Nam nhưng bây giờ hình ảnh con trâu đi trước cái cày đi sau được xem là một hình ảnh của nền nông nghiệp lạc hậu ở Việt Nam. Dù nói gì thì nói nhưng con trâu vẫn là người bạn thân thương của nông dân Việt Nam tự bao giờ. Vậy mà giờ đây, con trâu chỉ được biết đến qua sách báo, các vùng quê Việt Nam là rất ít vì sự đổi mới của nghành nông nghiệp của Việt Nam.

Trâu bắt nguồn từ trâu rừng,sau nhìu thế kỷ được con người thuần hóa. Trâu là loài nhai lại, thân hình to, vạm vỡ, trâu thường có chìu cao 1m2-->1m4 , đầu nhọn thường dùng để tự vệ, da trâu dày, lông rậm, cứng, thường có màu đen, sừng trâu rất to, cong như chiếc lưỡi liềm, thuộc nhóm sừng rỗng và thuộc lớp thú có vú, đuôi trâu dài có túm lông dùng để xua đuổi ruồi mũi hoặc các loài ký sinh khác, 4 chân thon thắc, có móng sừng giúp trâu di chuyển tốt ở mọi địa hình. Trâu sinh sống ở khắp nơi, thức ăn chính của chúng là các loại cỏ, rơm rạ và một số lá cây. Trâu là đv có vú, sinh sản đơn tính. Trâu cái đẻ theo mùa, thường vào vụ xuân hè. Nghé con mới chào đời chưa có sừng, chưa mọc răng, chỉ sau vài tiếng đã có thể đi lại đc, trâu đẻ mỗi năm một lần, 12 tháng, một con trâu có thể đẻ đc 5-->6 lần. Trâu đực trưởng thành có trọng lượng từ 450kg-->500kg. Trâu cái trưởng thành có trọng lượng từ 300kg-->400kg.

Do sự dẻo dai, có thể cày bừa ở ruộng sâu ruộng nhiều bùn, lún mà bò không thể cày đc, nhưng nhược điểm thì trâu khó nuôi nhốt như bò, cần phải chăn thả. Vì nghành công nghiệp phát triển mạnh nên giờ đây trâu đc thay thế bởi các loại máy móc làm nó bị sao lãng ở Viêt Nam. Trước kia vì sức kéo trên đồng dựa vào trâu bò, nghành công nghiệp đã chi không ít tiền cho việc nhập khẩu trâu giống to khỏe từ nước ngoài để nâng cấp đàn trâu trong nước, còn ngày nay thì số tiền trên đc chi để trang bị các loại máy móc tân tiến và hiện đại hơn.

Ở nông thôn, từ xưa đến nay, trâu là nguồn sức kéo chính, cày bừa. Một con trâu khỏe một ngày có thể giúp người nông dân cày từ 3-->4 sào ruộng . Ở miền núi trâu đc dùng để vận chuyển gỗ, khi khai thác lâm nghiệp... Trâu là nguồn cung cấp thực phẩm, những món ăn đặc sản  như thịt trâu nướng..., sữa trâu chất lượng cũng không kém sữa bò, một con cái trong một vụ có thể cho tới 500l sữa. Da trâu, xương trâu, sừng trâu đc dùng trong các mặt hàng thủ công mĩ nghệ, không những thế phân trâu còn có thể làm phân bón cho ruộng hoặc cây trồng.

Trâu đã gắn bó với tuổi thơ với những đứa trẻ mục đồng, kì niệm về những buổi chăn trâu, thả diều, thổi sáo..Có thể nói trâu ăn ở đời đời kiếp kiếp luôn sang sẽ bao nỗi vất vã, những giọt mồ hôi nước mắt với con người và cứ thế hình ảnh những chú trâu đã đi sâu vào tâm trí của nhà nông, một hình ảnh gần gũi và cao đẹp, dưới những bóng tre mát rượi trâu lim dim mắt trong những buổi trưa hè đầy nắng gió, những tiếng sáo diều vi vu dường như nhưng tiếng ru ầu ơ hòa vào khung cảnh thiên niên thanh bình với hình ảnh những chú mọc đồng chăm chỉ trên lưng trâu học bài.

" thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
  yêu quê hương qua từng trang sách vỡ
   ai bảo chăn trâu là khổ
    tôi mơ màng như chim hót trên cao "

Ngày xưa, Đinh Bộ Lĩnh cũng từng cưỡi trâu ra đánh trận sau đó trở thành hoàn đế. Trâu còn gắn liền vói lễ hội văn hóa nhân gian. như lễ hội " đâm trâu " ở Tây Nguyên, lễ hội " chọi trâu " ở Đồ Sơn, mà ng dân đưa cả vào trong thơ:

  " Dù ai buôn đâu, bán đâu
    Mồng chín tháng tám chọi trâu thì về
    Dù ai bận rộn trăm bề
    Mồng chín tháng tám nhớ về chọi trâu "

Ngay cả truyện cổ tích ngày xưa của VN cũng đã có mặt con trâu ( trí không của ta đây ). Con trâu đc xem là con vật linh thiên bởi vì nó nằm trong 12 con giáp mà ng VN dùng để tính tuổi, tính năm. Cón đưa cả vào tranh Đông Hồ (trẻ em cưỡi trâu thổi sáo )

Giờ đây, những chú trâu hiền lành, hữu ích đã trở thành ng bạn cùa nông dân nói riêng và của miền quê VN nói chung. Hình ảnh những chú trâu ngày ngày bên ng nông dân cày bừa đã trở thành một biểu tượng của một miền quê thân yêu của VN. Dù đất nước phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng sẽ mãi mãi không vắng bóng những chú trâu cần mẫn làm trên cánh đồng làng.    !!!!!!!!! Chúc các pạn học tốt nhék !!!!!!!




Cảm ơn

Số người tham gia 5Uy tín +6 Tiền +14 Thu lại Lý do
Nkocnko_iuanh + 1 + 1 Cảm ơn bạn
BiLac + 2 + 10
love_lovely + 1 + 1 Cảm ơn bạn
hoc_hoy + 1 + 1
lavender_crycry + 1 + 1 Cảm ơn bạn

Xem tất cả


Thread Hot
[Đã được giải đáp] Kể lại một giấc mơ
[Làm văn] thuyết minh về con trâu ( lớp 9 )
[Văn học Việt Nam] NGHI LUẬN BÀI NƯỚC ĐẠI
[Đố Vui] câu đố. ai pít thỳ trả lời thử n
[Đã được giải đáp] Kể lại một trận chi
[Đã được giải đáp] thuyết minh cây dừa
[Đã được giải đáp] giup e voi ( văn 9 )
[Đã được giải đáp] nhân ngày 20-11......
[Đã được giải đáp] BÀI NÀY E CẦN GẤP L
[Đã được giải đáp] hj. LẠI LÀM PHIỀN M
[Đã được giải đáp] bài hát đa linh đa
[Ôn thi ĐH - CĐ] Chia sẻ tài liệu Sinh 12

15#
Đăng lúc 31-8-2013 05:55:56 | Chỉ xem của tác giả
long2310 gửi lúc 30-8-2013 19:56
có ai có nhìu ca dao ve con rau kok za
1. Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu
Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

2. Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi
Mua trâu xem vó, mua chó xem chân


3. Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

4. Đường về đêm tối canh thâu
Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười

5. Thiệt tình hỏng phải ba hoa
hôm qua tui thấy con gà đá trâu.....

6. Gà đá trâu bao lâu mới thắng
trâu đá gà què cẳng con trâu

7. Ai nói chăn trâu là khổ??
Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

8. Dù ai buôn đâu bán đâu,
Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về.
Dù ai buôn bán trăm nghề,
Mồng mười tháng tám trở về chọi trâu.

9. Đêm qua kẻ trộm vào nhà,
Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.
Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,
Thức mà giữ lấy con trâu con bò.
Nằm đây nào đã ngủ cho,
Thức mà giữ lấy con bò con trâu.

10. Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ăn cho béo trâu cày cho sâu.
Ở đời khôn khéo chi đâu,
Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

11. Chăn trâu chả biết mặt trâu
Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

12. Ầu ơ... Ví dầu ví dẫu ví dâu
Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

13. Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà
Tháng ba thì đậu đã già
Ta đi ta hái về nhà phơi khô
Tháng tư đi tậu trâu bò
Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…

14. Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cày giữ nghiệp nông gia.
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!
Bao giờ cây lúa còn bông,
thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.
“Con trâu là đầu cơ nghiệp

15. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,
Bò năm sáu tuổi đã tranh về già,
Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,
Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!

16. Trên trời có đám mây xanh (4)
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước gì ta lấy được nàng
Hà Nội, Nam Ðịnh sửa đàng rước dâu
Thanh Hóa cung đốn trầu cau
Nghệ An thì phải thui trâu mổ bò
Phú Thọ quạt nước hỏa lò
Hải Dương rọc lá giã giò gói nem
Tuyên Quang nấu bạc đúc tiền
Ninh Bình dao thớt Quảng Yên đúc nồi
An Giang gánh đá nung vôi
Thừ Thiên Đà nẵng thổi xôi nấu chè
Quảng Bình Hà Tĩnh thuyền ghe
Đồng Nai Gia Dịnh chẻ tre bắc cầu
Anh mời khắp nước chư hầu
Nước Tây nước Tàu anh gởi thư sang
Nam Tào Bắc đẩu dọn đàng
Thiên Lôi La Sát hai hàng hai bên

17. Trời mưa trời gió đùng đùng
Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu
Gánh về trồng bí trồng bàu
Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

18. Nam mô Bồ Tát
Chẻ lạt đứt tay
Đi cày trâu húc
Đi súc phải cọc
Đi học thày đánh
Đi gánh đau vai
Nằm dài nhịn đói

19. Nước giữa dòng chê trong, chê **c
Vũng trâu đầm hì hục khen ngon

20. Đời vua Thái Tổ - Thái Tông
Lúa mọc đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.

21. Thất là mất
Tồn là còn
Tử là con
Tôn là cháu
Lục là sáu
Tam là ba
Gia là nhà
Quốc là nước
Tiền là trước
Hậu là sau
Ngưu là trâu
Mã là ngựa

22. Trai thì cày ruộng khiển trâu
Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

23. Trăm năm còn có gì đâu
Miếng trầu liền với con trâu một vần

24. Trâu bò được ngày phá đỗ
Con cháu được ngày giỗ ông

25. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết

26. Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta
Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

27. Trâu kia kén cỏ bờ ao
Anh kia không vợ đời nào có con
Người ta con trước, con sau
Thân anh không vợ như cau không buồng
Cau không buồng như tuồng cau đực
Trai không vợ cực lắm anh ơi
Người ta đi đón, về đôi
Thân anh đi lẻ, về loi một mình

28. Của chua ai nấy cũng thèm
Em cho chị mượn chồng em vài ngày
Chồng em đâu phải trâu cày
Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

29. Dầu bông bưởi, dầu bông lài
Xức vô tới Tết còn hoài mùi *** trâu

30. Dù ai buôn bán nơi đâu
Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về

31. Ðàn đâu mà gảy tai trâu
Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

32. Thương nhau vì nợ vì duyên
Trâu đôi chi đó, thổ điền chi đây

33. Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần
Làm thân con nhện mấy lần vương tơ
Về đâu trong **c mà chờ
Hoa thơm mất tuyết , nương nhờ vào đâu
Số em giàu, lấy khó cũng giàu
Số em nghèo chín **n mười trâu cũng nghèo
Phải duyên phải kiếp thì theo
Giàu ăn khó chịu, lo gì mà lo

34. Chẳng qua số phận long đong
Cột trâu, trâu đứt, cột tròng, tròng trôi.

35. Lao xao gà gáy rạng ngày
Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.
Bước chân xuống cánh đồng sâu
Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày.
Ai ơi! bưng bát cơm đầy
Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng

36. Ru Con

Bao giờ cho đến tháng ba,
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.
Hùm nằm cho lợn liếm lông,
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.
Nắm xôi nuốt trẻ lên mười;
Con gà, be rượu nuốt người lao đao.
Lươn nằm cho trúm (1) bò vào;
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.
Lúa mạ nhảy lên ăn bò;
Cỏ năn (2), cỏ lác (3) rình mò bắt trâu.
Gà con đuổi bắt diều hâu;
Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông.
------------
Chú thích:
(1) Trúm : một thứ đó để bắt lươn
(2) Cỏ năn : một loài cỏ mọc dưới nước
(3) cỏ lác : thứ cỏ xấu
---------------
37. Thứ nhất vợ dại trong nhà,
Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn.
Vợ dại thì đẻ con khôn,
Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm.

38. Trâu chậm thời anh bán đi,
Dao cùn đánh lại vợ thì làm sao.

39. Trâu anh con cưỡi con dòng,
Có con đi trước lòng thòng theo sau.

40. Trâu anh con cưỡi con dòng,
Lại thêm con nghé cực lòng thằng chăn.

41. Trâu buộc thì ghét trâu ăn,
Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

42. Trâu kia kén cỏ bờ ao,
Anh kia không vợ đời nào có con.

43. Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa,
Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

44. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,
Bò năm sáu tuổi đã tranh cõi già.
Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,
Mùa đông tháng giá bò dò làm sao?


45. Em như ngọn cỏ phất phơ
Anh như con nghé nhởn nhơ giữa đồng

46. Mình rằng mình quyết lấy ta
Ðể ta hẹn cưới hăm ba tháng này
Hăm ba nay đã đến ngày
Ta hẹn mình rày cho đến tháng giêng
Tháng giêng năm mới chưa nên
Ta hẹn mình liền cho đến tháng hai
Tháng hai có đỗ có khoai
Ta lại vật nài cho đến tháng tư
Tháng tư ngày chẳn tháng dư
Ta lại chần chừ cho đến tháng năm
Tháng năm là tháng trâu đầm
Ta hẹn mình rằng tháng sáu mình lên
Tháng sáu lo chửa kịp tiền
Bước sang tháng bảy lại liền mưa ngâu
Tháng bảy là tháng mưa ngâu
Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu
Tháng tám là tháng trăng thu
Bước sang tháng chín mù mù mưa rươi
Tháng chín là tháng mưa rươi
Bước sang tháng mười đã đãi mưa đông
Quanh đi quẩn lại em đã có chồng
Như chim trong ***g, như cá cắn câu

47. “Trâu gầy cũng tày bò giống”

14#
Đăng lúc 30-8-2013 19:56:05 | Chỉ xem của tác giả
sua253 gửi lúc 3-7-2012 20:38
hjhj.
giup mih lam bai thuyet mih cay lua yk

có ai có nhìu ca dao ve con rau kok za
13#
Đăng lúc 14-8-2013 17:07:30 | Chỉ xem của tác giả
nina1312 gửi lúc 25-9-2012 14:19
Mở bài đê viết sao đi ha

Con trau đã có từ rất lâu, có lẽ là có từ lúc khai thi ...

tại................................hĩhix
12#
 Tác giả| Đăng lúc 2-10-2012 21:11:53 | Chỉ xem của tác giả
sao không viết tiếp đi nina.....
11#
Đăng lúc 26-9-2012 13:38:25 | Chỉ xem của tác giả
ừm bân đi nên viết vội   thẳng thẳng quá đi..giận lun nè
10#
Đăng lúc 25-9-2012 14:19:10 | Chỉ xem của tác giả
Mở bài đê viết sao đi ha

Con trau đã có từ rất lâu, có lẽ là có từ lúc khai thiên lập địa cho đến nay. Nó không chỉ gắnbo1 với đời sống vật chất mà còn gắng bó cả về tinh thần của người nông dân Viet Nam.Với họ con trâu là tài sảng to lớn của họ,nó cũng là đầu cơ nghiệp của nhà nông.Bởi thế mà trâu đã trở thành một người bạn tri âm tri kỉ của nhà nông.
Mang trên mình một làng da đen thạt huyền bí và sắc sảo nhưng mà nó lại gắng bó với công việt của mình. trên gương mặt thì thể hiện một tính chất trung thực và chất phát của người dân. Ẩn liền với gương mặt thì đôi mắt huyền bí đã đem lại cho chúng một cách nhìn thiện cảm của mọi người đối chúng.

Đánh giá

quá hay luôn,chính tả thì sai cũng hơi vô đối :D ^^  Đăng lúc 25-9-2012 22:38
Hay quá :D:D  Đăng lúc 25-9-2012 17:58
9#
Đăng lúc 17-9-2012 21:19:56 | Chỉ xem của tác giả
thanks nhé

Đánh giá

hi ^o^  Đăng lúc 17-9-2012 21:22
8#
 Tác giả| Đăng lúc 17-9-2012 18:16:17 | Chỉ xem của tác giả

Nón lá có lịch sử lâu đời đã khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khỏang 2500-3000 năm. Nón lá gần với đời sống tạo nhiều nét bình dị, đoan trang, yêu kiều, duyên dáng cho người con gái Việt Nam và thực tiễn với đời sống nông nghiệp, một nắng hai sương.
                 Nón lá ở Việt Nam có nhiều loại khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử:

Nón dấu : nón có chóp nhọn của lính thú thời xa xưa
Nón gò găng hay nón ngựa: sản xuất ở Bình Định làm bằng lá dứa đội khi cỡi ngựa
Nón rơm : Nón làm bằng cộng rơm ép cứng
Nón quai thao : người miền Bắc thường dùng trong lễ hội
Nón Gõ : Nón gõ làm bằng tre ghép cho lính hồi xưa
Nón lá Sen: cũng gọi là nón liên diệp
Nón thúng: thứ nón lá tròn bầu giống cái thúng.
Nón khua :Viên đẩu nón của người hầu các quan xưa
Nón chảo : thứ nón mo tròn lên như cái chảo úp nay ở Thái Lan còn dùng
Nón cạp: Nón xuân lôi đại dành cho người có tang
Nón bài thơ : ở Huế thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hay một vài câu thơ
……..
Tuy có nhiều chủng lọai nhưng phổ biến nhất vẫn là nón lá.Phải nói rằng người Việt Nam ta từ nông thôn đến thành thị đều từng dùng nón lá nhưng có mấy ai quan tâm đến nón có bao nhiêu vành,đường kính rộng bao nhiêu?

Nón lá tuy giản dị rẻ tiền nhưng nghệ thuật làm nón phải khéo tay. Với cây mác sắc,họ chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu rồi uốn thành vòng tròn trịa bóng bẩy. Có được khung nón,người ta còn phải mua lá hay chặt lá non còn búp ,cành lá có hình nan quạt nhiều là đơn chưa xòe ra hẳn đem phơi khô. Lá non lúc khô có màu trắng xanh,người mua phải phơi lá vào sương đêm cho bớt độ giòn.người ta mở lá từ đầu đến cuống lá ,cắt bỏ phần cuối cùng,rồi dùng lưỡi cày nóng và búi giẻ hơ trên thanh hồng kéo lên lá nón thành tờ giấy dài và mỏng,nổi lên những đường gân nhỏ,lựa những lá đẹp nhất để làm vành ngòai của nón.

Sau đó người ta dùng cái khung hình chóp ,có 6 cây sườn chính để gài 16 cái vành nón lớn nhỏ khác nhau lên khung.lọai khung này thường do người chuyên môn làm để kích thước khi lợp lá và chằm nón xong co thể tháo nón ra dễ dàng.Những lá nón làm xong được xếp lên khung,giữa 2 lóp lá lót một lượt mo nang thật mỏng và được buộc cho chắc.Tiếp là công đọan khâu, bàn tay người thợ thoăn thoắt kluồn mũi kijm len xuống sao cho lỗ khâu thật kín.

Nguời thợ khéo còn có tài lẩn chỉ,khéo léo giấu những nút nổi vào trong.Chiếc nón khi hòan chỉnh vừa bền vừa đẹp ,soi lên ánh mặt trời thấy kín đều.Nón rộng đường kính 41cm,người ta phết phía ngòai lớp sơn dầu mỏng để nước mưa không qua các lỗ kim mà vào trong.Để có môt chiếc nón như thế phải trải qua 15 khâu,từ lên rừng hái lá,sấy lá,mở,ủi,chọn lá,chắm ,cắt lá ....

Cũng chính vì mang đầy tính nghệ thuật mà con người luôn biết trân trọng sản vật văn hóa này. Ngay trog thời đại thông tin,tuy có số lượng không đông nhưng vẫn còn có những con người yêu văn hóa truyền thống mà bám trụ với nghề làm nón khó thì nhiều mà lời thì ít này. Họ đã cùng chung tay lập ra những làng nón truyền thống,nơi cung cấp số lượng lớn nón cho các tỉnh thành.

Có thể kể đến làng Phú Cam còn gọi là phường Phước Vĩnh; ngay ở trung tâm thành phố Huế, trên bờ nam sông An Cựu, làng Phú Cam nổi tiếng với nón bài thơ Huế đã xinh ở dáng lại nhã ở màu,mỏng nhẹ,soi lên ánh sáng thấy rõ những hình trổ giấy về phong cảnh Huếkèm theo lới thơ cài ở hai lớp lá. Hay xã Nghĩa Châu(Nghĩa Hưng) từ lâu nổi tiếng với nghề làm nón thanh thoát ,bền đẹp. Rồi nón Gò Găng ở Bình Định, nón lá ở làng Chuông (Thanh Oai,Hà Tây), tất cả tô đẹp thêm cho nét văn hóa nón độc đáo của Việt Nam.

Và rồi, tất nhiên,chiếc nón lá đi vào thơ ca nhẹ nhàng như mặc nhiên phải vậy.Nhà thơ Bích Lan đã từng miêu tả chịếc nón bài thơ Huế rằng:

Ngưới xứ Huế yêu thơ và nhạc Huế
Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay
Nón bài thơ e lệ nép trong tay
Thầm lặng bước những khi trời dịu nắng
Và ngay cả trong ca dao:
Nón này che nắng che mưa
Nón này để đội cho vừa đôi ta
Còn duyên nón cụ quai tơ
Hết duyên nón lá quai dừa cũng xong

Hình ảnh chiếc nón lá trong mắt nhà thơ là hình ảnh của người thiếu nữ thơ ngây trong tà áo dài thanh khiết,của người phụ nữ mộc mạc chân tình gắn đời với mảnh ruộng quê hương,của những mối tình thầm kín gửi qua bài thơ dấu trong nón lá.

Mỗi chiếc nón có một linh hồn riêng ,một ý nghĩa riêng.hiện nay ,Việt Nam ta có đến hàng chục lọai nón cổ truyền khác nhau,chứng minh cho nền văn hóa và đậm sắc nghệ thuật.Đời sống văn minh,phát triển nhung nón lá Việt Nam vẫn thuần túy nguyên hình của nó :giản dị,duyên dáng.Ở bvất cứ nơi đâu,từ rừng sâu hẻo lánh,trên đồng ruộng mênh mông,dọc theo sông dài biển cả,đều thấy chiếc nón lá ngàn đời không đổi thay.



Cảm ơn

Số người tham gia 2Uy tín +3 Tiền +3 Thu lại Lý do
love_lovely + 2 + 2 Ủng hộ 1 cái!
hoc_hoy + 1 + 1 Cảm ơn bạn

Xem tất cả

Bạn phải đăng nhập mới được đăng bài Đăng nhập | Đăng ký

Quy tắc điểm

GMT+7, 26-4-2026 01:45

Trang Chủ | Diễn Đàn Trường Mở

Truongmo.com © 2011

Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách